Thứ hai, ngày 22-05-2017
Công cụ làm việc cá nhân



Số lượt truy cập:

installing easiest cool counters

“Nâng niu tất cả chỉ quên mình”


(Lược ghi bài nói chuyện về Bác Hồ của Giáo sư Hoàng Chí Bảo với Việt kiều tại Thái Lan và cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, Bangkok ngày 22/1/2017, các tiêu đề do Đại sứ quán đặt)


Thời gian của chúng ta cho buổi nói chuyện về Bác Hồ không nhiều, chỉ khoảng 2 tiếng, tôi sẽ chọn vài điểm cốt yếu nhất để trình bày về Bác. Chúng ta sẽ còn cả cuộc đời để tìm hiểu, nghiên cứu và xúc động về Bác nhiều hơn.

Nếu còn sống với chúng ta đến ngày hôm nay, thì Bác của chúng ta được 127 tuổi, nhưng Bác chỉ ở với chúng ta 79 mùa xuân rồi ra đi. Lúc Bác ra đi thì trong nước chúng ta đang ở thời kỳ cam go nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mà tấm lòng của bà con bên này cũng luôn hướng về Bác, hướng về Tổ quốc. Đồng bào ta đang sinh sống tại Thái Lan thật vinh dự và cảm động, vì mảnh đất này đã hai lần in dấu chân của Bác. Đây cũng là nơi mà những đốm lửa đầu tiên của phong trào yêu nước giành độc lập, tự do đã được Bác nhen nhóm.

Hôm nay, cho phép tôi được tập trung vào hai điểm. Thứ nhất là vài nét về cuộc đời của Bác. Có thể nói là một cuộc đời vừa là huyền thoại, vừa là sự thật sinh động. Huyền thoại là những gì phi thường trong lịch sử. Nhưng mà riêng với Bác, đây là huyền thoại đã trở thành lịch sử, đã trở thành sự thật trong cuộc đời của Bác. Chính điều đó đã làm cho Bác của chúng ta có một sức sống, ảnh hưởng lâu dài đến mọi thế hệ. Tại sao mà người ta ca ngợi Bác là “Hồ Chí Minh, Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại” chính là như vậy. Chúng ta sẽ nói về cuộc đời đầy tính huyền thoại của Bác. Và cũng như nhiều vĩ nhân trong thế giới này, Bác của chúng ta không chỉ có huyền thoại. Ngay cả những giai thoại về Bác cũng thấm đẫm cảm xúc, bởi cuộc đời nhiều khi dân gian hóa Bác thì lại làm cho Bác đầy cảm xúc.

Bản Di chúc thiêng liêng


Tài liệu "Tuyệt đối bí mật"

Thứ hai là bản Di chúc Bác, một trong những văn kiện quý giá nhất của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó có cả tình thương nhớ bà con Việt kiều, trước lúc Bác ra đi. Bây giờ có thời gian, chúng ta mới hiểu vì sao Bác để những 4 – 5 năm liền suy nghĩ, để viết, sửa chữa. Chữa lần cuối cùng lúc 4 tháng trước khi Bác mất, mà cuối cùng chỉ có 1000 từ thôi. Và trong 1000 từ đó, Bác dành tất cả cho chúng ta với tình thương của Bác. Bác chỉ lấy ra 79 từ nói về việc riêng của Bác. Mà Bác lại viết về việc này từ năm 75 tuổi, cho nên chúng ta mới nhận thấy linh cảm sâu xa của Bác.

Lần này Đảng ta ra Chỉ thị mới về Bác cũng có một chi tiết rất cảm động. Tổng Bí thư Đảng ta, người đã từng đến thăm bà con ở đây, ghi là Chỉ thị này phổ biến đến từng cơ sở, từng chi bộ một, mà lại ghi ngày 15/5/2016. 15/5 chính là ngày Bác viết xong Di chúc. Bác viết từ 10/5 đến 15/5 thì kết thúc, bây giờ chúng ta ghi ngày 15/5 năm nay cũng hàm nghĩa là toàn Đảng, toàn dân nguyện suốt đời học tập và làm theo Di chúc của Bác. Xin các bác, các đồng chí hồi tưởng lại 52 năm trước đây khi Bác bắt tay vào viết bản Di chúc này. Bác ghi là: “Hà Nội, 15/5/65,” lúc đó Bác 75 tuổi. Bác ký tên là Hồ Chí Minh. Đây là tên Bác dùng trong phút cuối cùng của cuộc đời mình. Bác còn cẩn thận viết một dòng chữ viết tay, đây là nét chữ của Bác. Bác ghi là “Chứng kiến của Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.” Lúc bấy giờ Đảng ta là Đảng Lao động Việt Nam, Bí thư Thứ nhất tức là Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn. Đồng chí Lê Duẩn được Bác mời đến để ký một chữ cho Bác.

Với Bác thì đây là một bức thư, Bác khiêm nhường như vậy, cho đồng bào, đồng chí thôi. Còn với Đảng ta, là một văn kiện vĩ đại. Một tổng kết lớn về cách mạng Việt Nam gắn bó cả sự nghiệp của Đảng, của dân tộc lẫn cuộc đời của Bác. Cho nên phải có người đứng đầu Trung ương ký xác nhận, là ông Lê Duẩn. Nhưng người giữ bản Di chúc này, Bác giao cho thư ký của Bác là đồng chí Vũ Kỳ mà chúng ta đã nghe tên tuổi. Đồng chí Vũ Kỳ cũng đã trở về với Bác nhiều năm nay rồi. Bác dặn đồng chí Vũ Kỳ một câu như thế này: Chú nhờ giữ bí mật cho Bác (Bác ghi là “Tuyệt đối bí mật”), đừng nói lộ ra ngoài để dân lo. Cả cuộc đời Bác chỉ nghĩ về dân, sợ dân lo, dân buồn. Bác còn dặn là: “Chỉ khi nào Bác đi rồi, chú mới báo cho Trung ương là Bác có bức thư để lại đó.” Bức thư này chính là bản Di chúc lịch sử.

Còn 79 từ Bác lấy ra từ Di chúc nói về việc riêng cho mình thì chúng ta có thể liên tưởng đến một thu hoạch vĩ đại như thế này: hóa ra đời Bác, Bác dành nhiều nhất, tối đa nhất cho dân, cho nước, Bác lấy ra cái ít nhất cho chính bản thân mình. Thậm chí đến mức Bác hy sinh toàn vẹn cuộc đời, Bác hóa thân vào dân tộc không nghĩ về mình nữa. Ngay đọc Bản Di chúc này, đoạn Bác nói về tro xương, hài cốt, Bác cũng không nghĩ về mình nữa đâu. Bác linh cảm thấy một điều là không chờ được đến ngày toàn thắng, không chờ được đến ngày miền Nam giải phóng. Cho nên Bác dặn: Nếu như khi tôi đã qua đời, mà miền Nam vẫn chưa được giải phóng, thì xin gửi lại một ít tro xương cho đồng bào miền Nam. Miền Nam, Bác nói là, “trong trái tim tôi.” Miền Nam tức là có cả Huế, là nơi mẹ Bác mất.

Bản Di chúc Bác để lại cho chúng ta, cho đến nay đã có lịch sử 52 năm rồi. Bác đi cách đây 48 năm. Sau đây chỉ 2 năm nữa thôi, chúng ta sẽ kỷ niệm tròn nửa thế kỷ Bác mất 50 năm. Những điều như thế trở nên linh thiêng vô cùng trong cảm xúc của mỗi chúng ta. Nói đến Di chúc, chúng ta không quên nhắc một điều là tác phẩm này Bác để lại đã được xếp vào hàng Quốc bảo, tức là Bảo vật Quốc gia, báu vật quốc gia truyền từ đời này sang đời khác như một giá trị văn hóa tinh thần bền vững mãi mãi.

Chúng ta biết, mẹ Bác mất vào ngày 22 tháng Chạp, mà ngày 23 tháng Chạp tức là lúc Bác Hồ của chúng ta có 10 tuổi đầu thơ bé, chít khăn tang đưa mẹ ra nghĩa địa ở Huế. Do đó, miền Nam trong trái tim Bác là cả miền Trung, là Huế. Bác đã dặn như vậy. Thế là mẹ Bác mất ở Huế, bên bờ sông Hương. Bố của Bác là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, lại mất vào đúng thời điểm Bác đang chuẩn bị thành lập Đảng. Đó là thời điểm cuối cùng Bác sống trên đất Thái Lan, năm 1930, cụ chỉ thọ 67 tuổi. Cụ Nguyễn Sinh Sắc/Nguyễn Sinh Huy là bố của Bác. Còn mẹ Bác được có 33 tuổi và lúc đó Bác có 10 tuổi đầu. Bác còn được trực tiếp chứng kiến ngày tang lễ mẹ, còn lúc bố mất Bác đang ở nước ngoài chuẩn bị cho việc thành lập Đảng chứ không có nhà. Mà Cao Lãnh, Đồng Tháp xa xôi chưa một lần Bác đến. Nên Bác thương nhớ miền Nam là thế.

Chị gái Bác là bà Nguyễn Thị Thanh, có một bí danh rất đẹp là Nguyễn Thị Bạch Liên. Bạch Liên có nghĩa là hoa sen trắng, cho nên Bác có lấy tên là Hồng Liên – hoa sen hồng để tương xứng với chị trong chuyến chị về Hà Nội thăm em khi em đã là Chủ tịch nước. Bà chỉ thăm em duy nhất được một lần rồi bà mất. Bà mất đúng năm Điện Biên Phủ 1954, Bác ở núi rừng Việt Bắc không có nhà. Anh trai Bác tên là Nguyễn Sinh Khiêm, hay còn gọi là ông Cả Khiêm, hay Nguyễn Tất Đạt, cũng chỉ ra thăm Bác một lần vội vã sau Cách mạng Tháng 8. Lúc bấy giờ cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược trở lại đã âm ỉ, một chuyến thăm rất vội vã, ngắn ngủi. Sau đó ông Cả Khiêm cũng mất, sống được 62 tuổi. Ông mất năm 1950, tức là năm Chiến dịch Biên giới.

Mẹ mất sớm khi còn thơ ấu; bố mất khi đang thành lập Đảng; anh không vợ, không con; chị không chồng, không con. Bác một thân một mình, cô đơn đến phút tuổi già, tất cả vì dân, vì nước. Nên nếu nói về đời Bác, chỉ cần nói đức hy sinh toàn vẹn là đầy đủ nhất, hy sinh vì dân, vì nước.

Tên Bác xoay quanh “dân” và “nước”

Bác dùng cho mình rất nhiều cái tên, đời Bác sống 79 tuổi mà Bác sử dụng đến 175 cái tên. Nhưng trong đó, nổi bật nhất là Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Ái Dân. Ái Quốc là khi Bác còn rất trẻ, hoạt động chủ yếu ở nước ngoài ở Pháp và châu Âu mà kẻ thù coi Bác là bất hợp pháp. Vì hoạt động để lật đổ chế độ thực dân, để giải phóng cho đồng bào mình nên bị coi là một nhân vật nguy hiểm cũng là một điều dễ hiểu thôi. Nhưng mà khi Cách mạng Tháng 8 thành công, Bác đã là Chủ tịch nước, là Nguyên thủ Quốc gia, thì từ đó trở đi, Bác lấy tên là Nguyễn Ái Dân. Ái Quốc là yêu nước, Ái Dân là yêu dân. Đời Bác chỉ xoay quanh chữ “dân”, chữ “nước” mà thôi. Đó là triết lý sống của Bác. Thế cho nên khi Bác mất, cả dân tộc và nhân loại thế giới thương nhớ Bác. Vì đời Bác hy sinh cho những mục tiêu cao cả đó.

Trong số 175 cái tên, ngoài Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Ái Dân, thì Nguyễn Tất Thành là tên lúc Bác 16 tuổi, cụ Phó Bảng thân sinh đặt cho Bác với một cái ý nguyện là nhất định phải thành công trong sự nghiệp cứu dân, cứu nước, chứ không phải cho bản thân mình. Anh trai Bác là Tất Đạt, Bác là Tất Thành, tức là thành đạt trong sự nghiệp chung vì dân, vì nước. Tại sao ở Thái Lan, Bác có tên là Thầu Chín? Đây là cách gọi thân thiết, kính trọng đối với người già, dù Bác của chúng ta lúc đó mới có 37 – 38 tuổi thôi. Ở Trung Quốc, Bác dùng tên là Lý Thụy hay là Vương. Ở Liên Xô, Bác lấy tên là Lin, Bác học Đại học Quốc tế Lê-nin mà. Bác còn làm luận án tiến sĩ sử học ở Liên Xô, tổ quốc của Lê-nin, từ thời còn rất trẻ. Mà sau khi Liên Xô đổ vỡ, chúng ta mới tìm thấy bản luận án này trong kho tư liệu của quốc tế. Hóa ra Bác viết về ruộng đất, nghiên cứu vấn đề ruộng đất ở Đông Dương. Mà trong Di chúc của Bác, Bác cũng còn đau đáu niềm đau về ruộng đất của nông dân. Bác dặn là chôn Bác trên đồi cao cho đỡ tốn đất, Bác thêm chữ ruộng, “cho đỡ tốn đất ruộng của nông dân.”

Thế rồi, Bác còn có những cái tên rất lạ. Có khi Bác dùng cả những địa danh như Việt Bắc, Tân Trào làm tên mình. Ở Bắc Pó, Bác dùng tên là Ông Ké hay là Già Thu, v.v... Nhưng lại có chi tiết này rất cảm động, có lúc Bác chỉ viết tắt một chữ B thôi là ta biết đó là Bác. Hay là CB là Của Bác. Tất cả các công từ Bác viết cho Trung ương, Bác chỉ ký ở cuối trang là B là Bác, hay CB là Của Bác.

Ai cũng biết Bác không có vợ con, không có gia đình riêng như chúng ta. Vậy tại sao trong 175 tên của Bác lại có rất nhiều tên phụ nữ? Tên con gái toàn là tên đẹp cả. Bác viết: Thanh Lan, Song Lan, Thu Lan, Diệu Hương, Tuyết Trinh, Hồng Liên, Thu Giang, v.v... Đấy là tên Bác cả. Riêng Hồng Liên, tức là để tương xứng với tên Bạch Liên của chị gái. Còn tất cả các tên khác của Bác cũng đều rất đẹp cả. Nhưng chỉ là một phép nghi binh thôi, một sự hóa trang thôi, để che mắt kẻ thù. Cho nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng là người giải thích đúng nhất cái hiện tượng này. Thủ tướng viết rằng: nếu muốn biết vì sao Bác dùng nhiều tên phụ nữ, tên con gái thì hãy hiểu Bác là một nhà thơ. Bác không chỉ là một nhà tư tưởng lớn, Bác còn là một nhà thơ. Trái tim Bác xúc động, Bác nâng niu một bông hoa, một nụ cười trẻ thơ, một ánh trăng mới nở. Thì Bác cũng nâng niu một cái tên đẹp của người con gái, dễ hiểu thôi.

Còn lý do nữa muốn hiểu vì sao Bác hay dùng tên phụ nữ thì cứ mở tác phẩm của Bác ra đọc ta sẽ hiểu. Xem Bác dùng tên phụ nữ vào lúc nào, ở đâu, vào việc gì thì sẽ rõ. Mà đúng là như vậy. Hóa ra là Bác viết những tác phẩm lên án đế quốc, thực dân làm nhục phụ nữ. Bác đứng ra bênh vực nhân phẩm phụ nữ thì tốt nhất ký tên phụ nữ. Nó hợp lý, và cũng là một thứ nghi binh mà với Bác Hồ, đã chọn tên phụ nữ thì Bác là một tâm hồn nhà thơ, Bác chọn toàn tên đẹp. Đấy là lý do cho việc rất riêng tư này.

Chứ còn cuộc đời thật thì không một chút riêng tư. Mà đây là cả thế giới thừa nhận, đến phút cuối còn cô độc thế thôi. Lê Thị Huệ cũng chỉ là một mối tình trong trái tim, trong tinh thần, chứ có lấy nhau, có ăn ở với nhau đâu. Thế mà một thời người ta không hiểu Bác, người ta cứ né tránh không nói, vì sợ là như thế nó mất thiêng của thần, của thánh đi. Nhưng có cái gì đâu, chỉ trong trái tim thôi mà. Bây giờ trong bầu không khí đổi mới, hiểu Bác đầy đủ hơn, chúng ta càng nói cởi mở về Bác càng tốt, kể các những chuyện rất đời thường về Bác. Thì xung quanh câu chuyện tên của Bác, huyền thoại là như vậy.

Ngày sinh huyền thoại của Bác

Xin các anh, các chị nhớ cho là 19/5 là một ngày linh thiêng của dân tộc, và cũng là ngày lễ cảm động của cả thế giới nhân loại. Bây giờ tất cả các dân tộc trên thế giới đều kỷ niệm với Việt Nam ngày 19/5. Thì nó trở thành một sự thật. Nhưng sự thật này là một sự thật đã mang cả yếu tố huyền thoại. Một sự hóa thân của Bác vào dân tộc. Chúng ta có hiểu chi tiết này chúng ta mới thấy được giá trị của sự kiện 19/5 này. Bác về nước ở Pắc Bó, Cao Bằng vào đúng ngày Tết Tân Tị năm 1941. Sau một cuộc đi 30 năm tìm đường cứu nước. Đi khắp các châu lục: châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Ngay tại nước Mỹ, chân tượng Nữ thần Tự do của nước Mỹ cũng có dấu vết của Người. Bác làm đủ mọi nghề để kiếm sống để đi được khắp mọi nơi. Và đi một cuộc đi dài suốt 30 năm. Lúc đi có 21 tuổi xuân. Lúc trở về Pắc Bó đã 51 tuổi. Tròn 30 năm, đi qua tất cả 40 nước khác nhau trên thế giới. Thì đó là một kỳ tích. Trong thế kỷ 20, không có một vĩ nhân, một lãnh tụ nào lại có thể đi nhiều đến như vậy. Mà đi bằng hai bàn tay trắng, kẻ thù vây lung xung quanh, đi bằng lao động, đấu tranh và tình thương.

Lúc mà quyết định đi tìm đường cứu nước từ Bến cảng Nhà Rồng Bác cũng rủ một số bạn bè cùng đi với Bác đấy chứ. Nhưng mà đến phút chót thì họ từ chối cả. Vì ngợp trước sóng gió của cuộc đời, lấy tiền đâu mà đi, đi bằng cách nào và sống như thế nào. Bác 21 tuổi đầu mà Bác trả lời như thế này, Bác đưa hai bàn tay ra và Bác nói: Tất cả là ở đây. Và đấy chính là cuộc sống của Bác, Bác đúng là như thế. Thế thì, tại sao ngày 19/5 lại trở thành ngày sinh? Hóa ra là tại Pắc Bó, Cao Bằng, Bác thành lập Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh. Bác thành lập đúng ngày 19/5/1941. Thế thì sau Cách mạng Tháng 8 thành công, năm 1946 – năm đầu tiên của chế độ Cộng hòa, Bác chủ động làm lễ sinh nhật: 19/5/1946. Ai cũng tưởng làm sinh nhật cho Bác nên mừng lắm. Và từ đó ai cũng tưởng đó là ngày sinh của Bác. Có ngờ đâu, Bác hóa thân vào Mặt trận. Bác làm sinh nhật cho Mặt trận mà Bác nhận là của mình. Cho nên, các bác nào làm công tác đoàn thể, công tác hội, chính là công tác của Mặt trận, công tác xã hội, công tác đại đoàn kết xã hội, công tác đồng thuận xã hội, để mà thực hiện việc pháp triển đất nước, thực hiện độc lập, tự do, hạnh phúc cho muôn dân là cao quý lắm.

Đặc biệt nữa là muốn biết ngày 19/5, bây giờ nó trở thành một ngày huyền thoại, ngày tượng trưng dù nó đã đi vào lịch sử như một sự thật, và ta thừa nhận sự thật đó, thì phải đọc tờ tự khai lý lịch của Bác ta mới biết được. Bác cũng như chúng ta, cũng có khi 2 hồ sơ, 2 lý lịch. Nhưng Bác khai ở tầm vóc lãnh tụ. Bác đi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản ở Nga, tổ quốc của Lê-nin năm 1924. Mà cái Đại hội lần thứ 5 này phải hoãn vì Lê-nin ốm nặng. Thế rồi Lê-nin mất, tang lễ xong mới bắt đầu họp Đại hội. Mà Bác là một người đã đi dự lễ tang của Lê-nin ở Mát-xcơ-va. Trời tuyết lạnh như vậy mà có mấy manh áo mỏng, Bác đi về Bác ốm. Tuổi già Bác mắc lại bệnh phổi là vì thế. Đại hội đó, Bác đọc một bài tham luận nổi tiếng về cách mạng thuộc địa, về giải phóng các dân tộc bị áp bức, được cả Đại hội ngưỡng mộ, nhất là các đồng chí Xô-viết, bạn bè Nga của Bác. Bác đi họp Đại hội với tư cách là lãnh tụ Đảng Cộng sản Pháp, vì 30 tuổi, năm 1920, Bác đã là đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đến 40 tuổi, năm 1930, Bác sáng lập Đảng ta. Chưa kể Bác còn gây dựng phong trào ở đây và nhiều nước khác nữa. Bác đi họp với tư cách như vậy, nên người ta coi Bác là đại biểu quốc tế. Ban tổ chức yêu cầu tất cả đại biểu người nước ngoài đều khai tiếng mình cả. Mà họ ở Nga, nói bằng tiếng Nga, viết tiếng Nga. Mà tiếng Nga của Bác thì đến người Nga cũng phải ngưỡng mộ. Bác có một cái đặc biệt về ngoại ngữ, người ta gọi là “thiên phú trời cho,” ngôn ngữ nào Bác cũng biết. Bác là lãnh tụ duy nhất ở đời này tiếp khách nước ngoài không bao giờ dùng phiên dịch. Còn khi nào dịch thì chẳng qua là nghi lễ ngoại giao đòi hỏi phải như vậy thôi. Mà là dịch tượng trưng thôi, chứ còn Bác nói trực tiếp hết. Mà Bác toàn tự học cả, thế mới thấy cái vĩ đại của Bác.

Bác khai bằng tiếng Nga, tức là chỉ trả lời các câu hỏi trong tờ sơ yếu lý lịch đó là xong thôi. Đọc lên ta thấy rất ít thông tin, nhưng lại đầy ắp một bản lĩnh văn hóa. Phong cách ứng xử của Bác hồn nhiên, khiêm tốn vô cùng. Người ta hỏi họ và tên, Bác ghi mỗi chữ Lin. Lin là một trong 175 cái tên của Bác, Bác dùng ở Liên Xô. Bác ghi mỗi chữ Lin là xong. Dòng thứ hai là ngày, tháng, năm sinh. Bắt đầu từ đây là huyền thoại. Ngày, Bác để trống, Bác có khai đâu. Tháng, Bác để trống, Bác cũng có khai đâu. Còn năm sinh, Bác ghi một cách ước lệ: 1891. Có khi Bác lại khai là 1892. Riêng ở Pháp, Bác ghi là 1893, vì nó vây lùng như thế, Bác phải làm sao để nó không lùng ra tung tích của Bác.

Phỏng vấn Bác thì Bác trả lời là: “Người Phương Đông già như tôi thì luôn thích giữ cho mình một chút bí mật. Bác nói hóm hỉnh như vậy thôi. Nhưng mà khi mà ta có chủ trương là viết về Bác, viết tiểu sử cho Bác, ta mới hỏi Bác rất chân thành: Thưa Bác, sao Bác không có ngày tháng, mà năm sinh của Bác nó lại khác nhau thế? Như thế nào là đúng hả Bác? Bác cười và nói rằng: “Ngày tháng thì Bác không biết, không nhớ. Bác chỉ nhớ một chi tiết là bà ngoại Bác (bà ngoại Bác là cụ Nguyễn Thị Tuyết, vợ của nhà nho Hoàng Xuân Đường, mẹ Bác là bà Hoàng Thị Loan. Bác chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ nhà ngoại thời thơ ấu) dặn Bác là Bác sinh vào mùa sen nở, thì Bác biết vậy thôi.” Mùa sen nở tức là mùa hè, tháng 5, tháng 6. Bác thành lập Mặt trận ngày 19/5 đúng vào mùa sen nở. Quê nội Bác là Làng Sen mà. Còn quê ngoại Bác là Làng Chùa. Ta hỏi tiếp Bác: Thế còn năm sinh? Bác khai nhiều thế thì năm nào là đúng hả Bác? Bác trả lời mà không ai ngờ các đồng chí ạ: “Đúng hết, năm nào cũng đúng chú ạ.” Thế là chúng ta cứ ngơ ngác nhìn Bác, Bác phải giải thích: “Chú có biết không? Người Việt Nam mình ai cũng vậy thôi, đã có tuổi dương lại có tuổi âm. Nó có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. Mà Bác có nhớ đâu, đại khái nó là thế, Bác nghe kể như vậy.” Bác hồn nhiên thế đấy. Ta lại hỏi Bác: Thế sao riêng ở Pháp Bác lại khai xa thế? Bác bảo là: “Đấy là Bác nghi binh chú ạ. Nó theo dõi Bác nên Bác phải khai khác để nó không tìm ra Bác.”

Đấy là xung quanh câu chuyện về ngày, tháng, năm sinh của Bác. Và vì vậy 19/5 như một sự kiện tượng trưng, như một điều ước lệ và nó linh thiêng, bởi vì nó đánh dấu sự hóa thân của Bác vào dân tộc, vào Mặt trận mà Bác là linh hồn đại đoàn kết. Bác chủ động tổ chức sinh nhật có một lần. Đúng 19/5 năm 46, bởi vì lúc bấy giờ cuộc chiến tranh đã bắt đầu, súng đạn chiến tranh rất ác liệt. Bác muốn biểu dương sức mạnh đại đoàn kết, cho kẻ thù biết sức mạnh toàn dân là thế nào qua sự kiện đó thôi. Còn viết thư cho đồng bào, cảm ơn tình cảm của đồng bào chúc thọ Bác, Bác nói một câu cảm động như thế này: “Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào, thì từ nay về sau và mãi mãi, tôi vẫn là người của đồng bào. Tình thương yêu đồng bào của tôi mãi mãi không bao giờ thay đổi. Mỗi nhà có một nỗi khổ riêng. Mỗi người có một nỗi đau riêng. Cộng tất cả nỗi khổ đau đó lại là nỗi khổ đau của bản thân tôi.” Bác của chúng ta là thế đấy. Thế thì ta mới biết ngày này là ngày ước lệ.

Lần cuối cùng lúc Bác 79 tuổi, Bác kiên quyết không cho làm sinh nhật. Nói thế nào Bác cũng không cho làm. Tại sao lại như vậy? Ta có đọc Di chúc của Bác ta mới hiểu. Bác viết xong từ năm 65, năm 69 là năm Bác 79 tuổi. Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Trung ương đến để xin Bác cho tổ chức sinh nhật. Mà còn mong Bác khỏe mạnh để làm thượng thọ cho Bác. Bác bảo là: “Đừng làm sinh nhật cho Bác nữa, Bác chẳng biết còn được bao lâu nữa đâu.” Bác đau tim rất nặng và Bác mất trong một cơn đau tim dữ dội. Ở đây các bác, các đồng chí có nghe nói về cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không? Năm 1967, Đại tướng mất lúc có 53 tuổi mà Bác phong một lần lên luôn làm Đại tướng như đã từng phong cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Mà lúc bấy giờ là Tổng Tiến công Mậu Thân ở miền Nam đến gần rồi thì một cơn nhồi máu cơ tim đột ngột đã cướp đi sự sống của Đại tướng. Bác đi viếng về mà Bác khóc ròng rã, Bác bảo: Bác mất đi một nửa sự sống rồi. Bác ký truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Nhất cho cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, 53 tuổi, còn từ đó trở đi không bao giờ xếp hạng Huân chương Hồ Chí Minh nữa, chỉ dành cho một trường hợp và một con người như vậy thôi.

Thế thì ta mới biết rằng là Bác không cho làm sinh nhật vì Bác biết trạng thái bệnh tật của mình, giới hạn sự sống của mình. Đồng chí Lê Duẩn phải giải thích với Bác là, thưa Bác, không làm sinh nhật cho Bác thì không tiện đâu, vì ngoài Bác ra còn có Trung ương, còn có Chính phủ, có Mặt trận, có Quốc hội, lại có đoàn ngoại giao, mấy chục vị Đại sứ đang chờ để chúc thọ Bác, bây giờ Bác không cho tổ chức thì biết làm thế nào? Nói đến như vậy Bác mới đồng ý. Bác đồng ý một cách miễn cưỡng vì Bác nghĩ đến bạn bè quốc tế. Bác dặn thế này này, thôi, nếu vậy thì các chú làm thật nhanh lên cho Bác, thật nhanh lên trong 10 phút. Tại sao lại thật nhanh lên? Bác biết rằng bệnh đau tim của Bác như thế có thể chết đột ngột bất cứ lúc nào nên không kéo dài. Hai là, cả đời Bác tiết kiệm. Trong tư tưởng Bác, tiết kiệm là cao quý nhất, cần kiệm liêm chính. Bác nói, đừng bày vẽ tốn kém làm gì, đừng kéo dài, làm thật nhanh cho Bác, chỉ cho Bác mấy bông hoa là đủ rồi. Mà Bác cẩn thận đến mức Bác quay lại dặn đồng chí Lê Duẩn là “chỉ 5 bông hồng đỏ thôi.”

Thời ở Pháp, Bác nói là hai loài hoa mà tôi thích nhất là hoa hồng đỏ và hoa vàng. Đỏ và vàng là tượng trưng cho màu lá cờ Tổ Quốc, còn bây giờ Bác dặn là 5 bông hoa hồng đỏ thôi. Màu đỏ là màu chiến thắng. Bác vẫn thường dùng để tiếp khách quốc tế, còn trong cõi riêng tư, Bác đích thân chăm sóc một khóm hoa huệ bên cạnh khóm hoa hồng trong vườn Bác. Huệ là tên loài hoa và cũng là tên người con gái đó. Và như vậy, mối tình đầu của Bác, ta sẽ nói… Thế thì, chúng ta làm đúng lời Bác dặn mà chúng ta có ngờ đâu khóm hoa mà Trung ương tặng Bác lần cuối cùng chỉ vẻn vẹn 5 bông hồng, đóa hoa nhỏ xíu đó mà ông Vũ Kỳ pha nước, mang bánh kẹo ra để Bác mời khách. Khách của Bác bao giờ cũng là 4 vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước vào chúc thọ Bác đầu tiên: Tổng Bí thư Lê Duẩn, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Bác nói một câu cảm động như thế này: “Các chú uống nước, ăn bánh kẹo mừng thọ cho Bác đi. Bác mong các chú thông cảm cho Bác, mang tiếng là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thật đấy nhưng Bác nghèo lắm, Bác không có gì hơn để thiết đãi các chú đâu.” Đấy, cái chữ nghèo này là theo đúng nghĩa đen, nghĩa trực tiếp của nó.

Lễ sinh nhật cuối cùng ta có ngờ đâu, đơn sơ, đạm bạc, giản dị như vậy lại là dấu ấn không thể nào quên trong suốt cuộc đời, là lần cuối cùng ta có thể tổ chức sinh nhật cho Bác. Trong huyền thoại Hồ Chí Minh, xin các đồng chí nhớ cho, hóa ra cái ngày sinh nhật ấy lại chỉ là một ngày ước lệ, nhưng lại là sự thật. Sự thật là từ nay trở đi tất cả chúng ta lấy ngày 19/5 làm kỷ niệm sinh nhật Bác như đã trở thành thực tế rồi.

Bác Hồ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng